GIÁO DỤC TÌNH DỤC Ở VIỆT NAM – TIẾNG NÓI CỦA NGƯỜI TRONG CUỘC

Trong 2 ngày 10 và 11/8/2012, Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP) và Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) cùng hợp tác tổ chức Hội nghị Quốc gia về Giáo dục Tình dục ở Việt Nam năm 2012 tại Khách sạn Crowne Plaza, Hà Nội. Hội nghị là cơ hội để các nhà nghiên cứu và hoạt động xã hội chia sẻ các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực tình dục. Những người làm công tác giáo dục, tư vấn, công tác xã hội , văn hóa nghệ thuật và truyền thông và những người quan tâm đến chủ đề này đều được mời tham gia để đóng góp những suy nghĩ và các sáng kiến về giáo dục tình dục.

Đến với Hội nghị vào một buổi sáng mùa hạ đẹp trời, không khí phố phường trở nên trong lành hơn sau một đêm mưa. Điều đầu tiên tôi cảm nhận được sự chuyên nghiệp của Ban Tổ chức Hội nghị, từ khâu chọn địa điểm tổ chức đến việc đón tiếp khách mời cũng như cung cấp tài liệu. Tất cả mọi người, kể cả những người khuyết tật chúng tôi đều có thể hòa nhập vào không khí của Hội nghị. Chúng tôi hầu như có thể tiếp cận đến tất cả mọi nơi của Hội nghị. Tuy thời gian làm việc có chút khẩn trương nhưng chúng tôi vẫn có thể bắt kịp chương trình hoạt động mà không cảm thấy bị lạc lõng.

Chủ đề của Hội nghị năm nay nêu lên một vấn đề đang được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm: “Giáo dục tình dục ở Việt Nam: Nhốt hươu, đuổi hươu hay vẽ đường cho hươu chạy?”.

alt

Tình dục là một trong những khía cạnh quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân và có ý nghĩa đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của toàn xã hội. Trong những năm gần đây, giáo dục tình dục là một trong những chủ đề thường trực của các diễn đàn xã hội ở Việt Nam và mặc nhiên chỉ có thanh thiếu niên mới được coi là đối tượng của giáo dục tình dục. Câu hỏi được trăn trở trong vô số các cuộc thảo luận là có nên “vẽ đường cho hươu chạy?” Không ít các giải pháp được nêu lên nhưng cho đến nay, chưa có câu trả lời nào nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, mặc dù đã có sự thừa nhận rằng chưa có đường nhưng hươu đã chạy rồi và đã chạy từ lâu!

Bên cạnh những quan điểm đề xuất các giải pháp “cởi mở” - cung cấp thông tin toàn diện và trực tiếp cho vị thành niên thanh niên thì nhóm “thận trọng” lại quan ngại những hệ luỵ của sự “biết quá nhiều” đối với giới trẻ.

Trong khi các bên vẫn mải mê tranh luận thì ngày càng nhiều hiện tượng tiêu cực, thương tâm xảy ra với mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn và không chỉ còn là vấn đề của giới trẻ. Sự gia tăng các vụ xâm hại tình dục trẻ em, hiếp dâm (nam và nữ) mà ngay cả người xâm hại lẫn người bị xâm hại đều là vị thành niên, tình trạng mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai của vị thành niên, ngoại tình của người lớn, “chăn rau”, sự lan tràn của mại dâm, các sản phẩm khiêu dâm, kích dục… trong vài năm gần đây đã trở thành nỗi đau nhức nhối của toàn xã hội, gióng lên những hồi chuông cảnh báo thống thiết làm hoang mang không ít những bậc làm cha làm mẹ. Thêm vào đó, sự ngần ngại khi thảo luận những khía cạnh tích cực và tốt đẹp của tình dục càng khiến cho bức tranh trở nên xám bạc và càng khiến tình dục trở thành một chủ đề nhạy cảm hơn bao giờ hết.

Phát biểu tại phiên khai mạc, với lời dẫn dung dị, TS Khuất Thu Hồng – Đồng Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) - đã trích dẫn bức thư của một cô giáo THPT từ Nghệ An chia sẻ về việc cô thường xuyên nhận được các câu hỏi của các cô cậu học trò của mình về việc đã trót mang thai cần xử lý thế nào.

Hội trường dường như tĩnh lại bởi sự đồng cảm về một vấn đề rất đáng lưu tâm của xã hội. TS. Hồng nói: “Tôi đã nghe những lời tâm sự của các cô gái vì không thể thuyết phục bạn trai dùng biện pháp ngừa thai để rồi phải trải qua biết bao đau đớn dằn vặt khi phải bỏ đi kết quả tình yêu của họ. Có những người phụ nữ lại bị chồng hắt hủi vì bị nghi ngờ không còn trong trắng… Đau lòng hơn cả là chuyện những đứa trẻ non nớt bị xâm hại tình dục.”

Cũng tại Hội nghị nhóm nghiên cứu của ISDS đã công bố kết quả được khảo sát từ 5.123 người trong độ tuổi từ 18-65 tại 8 tỉnh và 3 thành phố. Kết quả cho thấy, có đến hơn 53% người trả lời rằng họ quan hệ tình dục vì để sinh con. Có 30% nữ và 22% nam coi tình dục là để duy trì tình cảm vợ chồng, 10% nữ và 6% nam coi quan hệ tình dục là trách nhiệm vợ chồng và chỉ có 11% nam và 4% nữ cho rằng quan hệ tình dục để có khoái cảm.

Mặc dù có đến 91% cho rằng phụ nữ cũng có quyền được hưởng khoái cảm tình dục như nam giới nhưng có tới 77,6% lại cho rằng tốt nhất là phụ nữ nên có ít kinh nghiệm tình dục hơn nam giới. Chính vì thế 84,1% cho rằng trinh tiết của người vợ khi kết hôn là rất quan trọng và ngược lại chỉ có 69,9% cho rằng trinh tiết của người chồng khi kết hôn là rất quan trọng. Nhóm nghiên cứu của ISDS đã bình luận rằng “trinh tiết vẫn được ca ngợi như một lá bùa hộ mệnh cho phụ nữ nhưng thực tế thì họ đang ngày càng thoả hiệp hơn với các trào lưu sống thử hay quan hệ tình dục trước hôn nhân”.

Từ  những nghiên cứu, thống kê cũng như những câu chuyện ở Hội nghị, chúng ta có thể thấy một thực trạng về kiến thức tình dục còn rất hạn chế ở Việt Nam. Đứng ở góc độ cá nhân một sinh viên ngành Tâm lý học, tôi nhận thấy dường như có quá nhiều sự né tránh khi nói về vấn đề tình dục, trong khi tình dục luôn là một bản năng nguyên thủy của con người. Chúng ta có thể né tránh nói về nó, xấu hổ khi đề cập đến, thậm chí phê phán để che giấu đi những suy nghĩ thực của mình về tình dục, nhưng đằng sau đó chúng ta lại có những khao khát “ngầm” được tìm hiểu những kiến thức về tình dục, và hơn cả là ham muốn được trải nghiệm, được biết về tình dục cùng những cung bậc của nó. Không khó để nhận ra trong các cuộc trò chuyện, tán gẫu nơi công sở, trường học,… đề tài về tình dục luôn trở nên khá sôi nổi khi được nhắc đến nhưng lại mang một không khí lén lút theo kiểu “nói nhỏ”, hay những ngôn ngữ về tình dục luôn được biến tấu mang tính ám chỉ để người nghe ngầm hiểu và tưởng tượng và rồi những câu chuyện đó có thể mang ra để trêu đùa nhau, biến thành một đề tài giải trí, để che giấu sự ngượng ngùng. Dường như trò chuyện một cách nghiêm túc và thẳng thắn về vấn đề tình dục cần một dũng khí rất lớn?! Thế nhưng, ngược lại với việc trò chuyện, chia sẻ kiến thức về tình dục, việc thực hành tình dục ở nước ta lại khá “mạnh bạo”!

Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam năm 2009 (SAVY 2) cho thấy tuổi trung bình của quan hệ tình dục lần đầu là 18.1 (18.2 với nam và 18 với nữ), thấp hơn so với SAVY 1. Điều này cho thấy xu thế chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân đang nổi lên ở giới trẻ. Tỷ lệ có bạn tình là 35,7% (nam) và 31,3% (nữ), tăng lên so với SAVY 1. Ở SAVY 2 có 34% số người được hỏi đã trả lời có bạn tình, số người sống chung là 16%. Sống chung, sống thử ở thanh niên đang nổi lên như là một hiện tượng  trong các trường đại học, các khu công nghiệp, kèm theo nó là những hệ luỵ làm nhức nhối dư luận xã hội.

Tình dục đồng giới phát triển mạnh mẽ ở các nước phương Tây và ngày nay đã lan tràn đến Việt Nam. Những hiện tượng đám cưới đồng giới, ngày diễu hành của những người đồng giới trong thời gian gần đây nhất đã cho thấy xu hướng phát triển của  xu hướng này ở Việt Nam; tuy nhiên ở SAVY 2 và SAVY 1 đã phát hiện tỷ lệ thanh thiếu niên không biết về tình dục đồng giới là 36,6% và 40% tính trên toàn quốc, chỉ thay đổi nhỏ sau 5 năm.

Điều này chứng tỏ nhận thức của cộng đồng về xu hướng tình dục này không được cải thiện bao nhiêu. Nhiều thanh thiếu niên chưa biết đến hiện tượng tình dục đồng giới và nhận định của các em về tình dục đồng giới nói chung không chính xác, nặng về thành kiến. Cần phải có những nghiên cứu và khảo sát nghiêm túc, khoa học về vấn đề này để định hướng dư luận xã hội.

Có thể thấy vấn đề Giáo dục tình dục ở Việt Nam đang rơi vào tình trạng “chưa học bò đã lo học chạy”, chúng ta chưa được trang bị một nền tảng kiến thức về tình dục nhưng chúng ta đã tiếp xúc với những vấn đề về tình dục khi bản thân còn chưa sẵn sàng, chưa đủ kiến thức cũng như kĩ năng sống, hoặc ngay cả khi bản thân sẵn sàng, chúng ta lại mù mờ về những cách để bảo vệ bản thân khỏi những mặt tiêu cực của tình dục. Không biết nhưng không dám thẳng thắn thừa nhận, lên tiếng, mà luôn né tránh dẫn đến bản thân tự tìm hiểu để rồi có thể đi sai đường, có những suy nghĩ sai lệch, không đúng về tình dục hoặc tạo ra những hậu quả đáng tiếc.

Hội nghị lần này cũng đã tổ chức một phiên Hội thảo vệ tinh: “Quyền sinh sản và tình dục của NKT: AI HỎI? AI TRẢ LỜI?”, người khuyết tật (NKT) chúng ta đã không còn đứng bên lề xã hội mà đã trực tiếp tham dự vào những vấn đề về sức khỏe và tình dục. Tuy lần này, đến với Hội nghị, chúng ta chỉ có gần 50 đại biểu là người khuyết tật đến từ ba miền Tổ quốc, nhưng chúng ta đã góp phần nói lên tiếng nói của mình về Quyền sinh sản và tình dục của Người khuyết tật.

Khai mạc hội thảo, bà Đặng Huỳnh Mai, nguyên thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, chủ tịch Liên hiệp hội về Người khuyết tật Việt Nam đã nhấn mạnh: “Quyền sinh sản và tình dục của người khuyết tật là một vấn đề rộng và bao gồm nhiều lĩnh vực. Chúng ta không chỉ nói đến vai trò của y tế mà cả vai trò của truyền thông, trách nhiệm và nghĩa vụ của các ban ngành và đặc biệt vấn đề giáo dục về khuyết tật và quyền sinh sản, tình dục của người khuyết tật trong trường phổ thông, trong trường đại học, trong xã hội là vô cùng quan trọng.”

Hội thảo gồm có 4 tham luận với hai nghiên cứu và hai mô hình can thiệp. Tham luận đầu tiên, một nghiên cứu định tính, của chị Nguyễn Hồng Hà, một phụ nữ khuyết tật vận động đến từ Trung tâm Sống độc lập cho thấy rằng mong muốn được yêu thương, được chăm sóc, được quyền hạnh phúc của người làm vợ, làm mẹ là mong ước thực sự của các phụ nữ trong nghiên cứu, tuy nhiên đó vẫn chỉ là mong ước bởi vì cơ hội tình yêu và hôn nhân của các phụ nữ khuyết tật rất hạn chế. Nhiều phụ nữ khuyết tật trong nghiên cứu đã kìm nén những khao khát bản thân và coi hạnh phúc là một cái gì đó xa vời vợi với họ. Tham luận tiếp theo đưa ra các dữ liệu định lượng của Trung tâm Sáng kiến Sức khoẻ và Dân số về những rào cản trong việc thực hiện quyền sinh sản và tình dục của NKT theo ba cấp độ: cá nhân, gia đình và cộng đồng – xã hội. Ở cấp độ cá nhân, tự bản thân NKT kỳ thị với mình và NKT chưa nhận thức được các quyền SKSSTD của họ và vận dụng quyền này trong thương thuyết. Ở cấp độ gia đình, tỷ lệ NKT gặp phản đối trong tình yêu và hôn nhân của NKT cao, lần lượt là 49,51% và 40%. Ở cấp độ cộng đồng – xã hội, nhiều người còn tỏ thái độ kỳ thị với NKT khi họ đi chơi với người yêu; tỷ lệ bị chế giễu về ngoại hình và các khả năng liên quan đến tình yêu, tình dục, hôn nhân cao; các kênh thông tin và nội dung thông tin về SKSSTD được cung cấp chưa phù hợp với các dạng khuyết tật; NKT gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận các cơ sở CSSKSSTD bao gồm cơ sở hạ tầng và thái độ của cán bộ y tế.

alt

Chị Nguyễn Hồng Hà đang trình bày tại Hội thảo vệ tinh

Tiếp theo là tham luận về mô hình can thiệp giáo dục giới tính cho học sinh khiếm thính do LIGHT thực hiện. Đĩa VCD “Hãy Nghe Cơ Thể Nói” là sản phẩm đầu tiên nói về vấn đề SKSS/SKTD dành cho VTN/TN Khiếm thính ở Việt Nam. Chương trình cũng nhận được sự ủng hộ và đánh giá cao từ phía gia đình của các em, giáo viên dạy trong các trường, cán bộ tham gia  dự án (nhân viên, giảng viên, quay phim, đạo diễn, dựng phim…), và giới truyền thông cũng như các ban ngành liên quan. Tham luận cuối cùng là về bộ tài liệu hướng dẫn hoạt động giảm kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người khuyết tật do Viện nghiên cứu phát triển xã hội thực hiện. Bộ công cụ nhằm giảm sự kỳ thị và PBĐX đối với NKT, thúc đẩy thực hiện quyền của NKT và hướng tới sự bình đẳng. Bộ công cụ đã được tập huấn sử dụng tới nhiều người ở cấp quốc gia, tỉnh, quận/huyện và phường/xã.

Sau 4 tham luận, các đại biểu tham dự hội thảo đã đưa ra nhiều câu hỏi để làm rõ các chi tiết trong các bài tham luận và đưa ra các câu hỏi và thảo luận liên quan đến những giải pháp để tạo cơ hội tình yêu và hôn nhân của những NKT và xoá đi những rào cản trong việc thực hiện quyền sinh sản và tình dục của họ. Dù các ý kiến, câu hỏi khác nhau, các đại biểu đều thống nhất rằng đây là một vấn đề cấp thiết và cần có những hành động cụ thể sau hội thảo để xúc tiến việc thừa nhận và thực hiện quyền được yêu, được có con, được kết hôn và được có một đời sống tình dục an toàn và thoả mãn của NKT. Thời gian hội thảo đã không đủ để các đại biểu chia sẻ các băn khoăn, trăn trở của mình, những điều mà như một số đại biểu chia sẻ "chưa bao giờ được nói". Ban chủ toạ đã phải xin lỗi nhiều đại biểu vì đã không thể đáp ứng những cánh tay của họ đã giơ lên xin phát biểu dù đã phải kéo dài thời gian phiên họp thêm gần một tiếng.

Bế mạc Hội thảo, Bà Hoàng Tú Anh, giám đốc Trung tâm Sáng kiến Sức khoẻ và Dân số phát biểu: “Chúng ta còn rất nhiều việc cần phải làm để Quyền Sinh sản và Tình dục của NKT được nhìn nhận và thực hiện. Việc này cần có sự chung tay của các ngành, các cấp khác nhau và của toàn cộng đồng chứ không chỉ của những NKT và những người làm việc với NKT. Hội thảo này mới chỉ là bước khởi đầu để kêu gọi sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, những nhà nghiên cứu, những người thực hiện chương trình và các tổ chức và cá nhân khác tới vấn đề sinh sản và tình dục của NKT. Chúng tôi mong muốn rằng họ sẽ có những hành động khẩn trương và thực tiễn để giúp cho NKT có được đời sống sinh sản và tình dục khoẻ mạnh và giúp họ thực hiện được các quyền sinh sản và tình dục của mình.”

Có thể thấy gần 3 tiếng đồng hồ là quá ngắn để những NKT có thể nói lên những tiếng nói, bày tỏ những mong muốn hay chia sẻ của bản thân về Quyền sinh sản và Tình dục của NKT, nhưng chúng ta cũng có thể tạm hài lòng khi chúng ta đã nỗ lực đấu tranh để giành lấy Quyền cho chính mình, chúng ta đã không bị xã hội bỏ quên hay phải đứng bên lề những vấn đề của xã hội nữa. NKT đang dần khẳng định vị thế và tiếng nói của mình ở cộng đồng trong vấn đề về Tình dục và Sức khỏe nói riêng và các vấn đề xã hội khác nói chúng. Tình dục và Sức khỏe – tất cả chúng ta đều là người trong cuộc!

                                                                                Tác giả: Nguyệt Hà  (Nguyễn Thị Ánh Ngọc)

                                                                                Hội viên của Trung tâm Sống SĐL Hà Nội


Chia sẻ bài viết

 

Hình ảnh nổi bật

  • Gặp đoàn ABILIS 11.2016
  • Tpwward ASCC vision 2025
  • ILP 22.11.2016
  • Lớp học tiếng Anh

Các tổ chức hỗ trợ







Liên kết

Nhóm vì tương lai tươi sáng





Thống kê truy cập

Ngày:21-09-2019
Số lượt truy cập2055140
Số người đang trục tuyến: 27