Tin tức hoạt động

Khóa tập huấn kỹ năng viết dự án

Với sự tài trợ của Quỹ vì sức khỏe tinh thần Việt Nam (MHIVN),Trung tâm Sống độc lập Hà Nội đã tổ chức khóa tập huấn kỹ năng Viết dự án cho các hội viên của Trung tâm và một số NKT Nhóm thực hiện chương trình sống độc lập Hải Phòng, Hội NKT Ba Đình, Câu lạc bộ Sinh viên khuyết tật Hà Nội trong tháng 4/2013.

 Mục tiêu của khóa tập huấn nhằm cung cấp cho học viên kiến thức và kỹ năng viết dự án xin tài trợ bằng cách phân chia các vấn đề viết dự án một cách khoa học. Khóa học cũng giúp học viên khám phá, phân tích, nghiên cứu theo chiều sâu của từng vấn đề và tìm hiểu cách thức để xây dựng thành một bản đề xuất dự án khả thi và hiệu quả. Khóa tập huấn do các giảng viên của Công ty Tư vấn Quản lý và Chuyển đổi Tổ chức (T&C Consulting) giảng dạy.

Thảo luận nhóm

 Với những kiến thức và kỹ năng đã được học, sau khóa tập huấn, các nhóm học viên đã xây dưng được 4 đề xuất dự án hoàn chỉnh để gửi cho nhà tài trợ. Những đề xuất này đều được giảng viên đánh giá cao, không chỉ ở khả năng vận dụng kiến thức đã học được vào việc viết đề xuất dự án mà quan trọng hơn là những nỗ lực của bản thân mỗi một học viên để có thể hoàn thành những để xuất trong thời gian rất ngắn.

Trung tâm Sống độc lập Hà Nội

 

MÙA XUÂN THỨ 4 VỚI HOẠT ĐỘNG GOM LỊCH CŨ TẶNG NGƯỜI KHIẾM THỊ

 Mùa xuân này chương trình Thu gom lịch cũ ủng hộ người mù do Trung tâm Sống độc lập Hà Nội khởi xướng đã tròn 4 tuổi. Điểm sáng trong hoạt động năm nay là chương trình đã có sự tham gia của Nhóm điều hành Quỹ an sinh của các hội viên Trung tâm và huy động được sự chung tay của mạng lưới tình nguyện viên Trường ĐH Y Tế Công Cộng, Nhóm thanh niên tình nguyện Trung tâm sáng kiến sức khỏe và dân số và Nhóm thanh niên Đông Anh tham gia với tất cả 14 điểm tập kết tại các quận và số lượng lịch cũ quyên góp được lên tới cả nghìn cuốn.

alt

 Anh Phan Ngọc Cung, một người khiếm thị có kinh nghiệm sử dụng lịch tờ làm giấy viết chữ nổi chia sẻ “Để viết được chữ nổi người mù cần sử dụng loại giấy đặc biệt đủ cứng và dụng cụ khuôn chữ và dùi. Cỡ của khuôn bằng với trang A4, trên khuôn như tấm bảng có 27 dòng, mỗi dòng có 30 ô, một ô có 6 chấm. Muốn viết chữ người viết dùng dùi chọc lên khuôn với mỗi ký tự chữ cái phổ thông được mã hóa thành 2 chấm cột dọc và 3 chấm hàng ngang. Chữ nổi chiếm nhiều diện tích mặt giấy, trung bình 1 trang viết A4 đem viết ra chữ nổi thì cần 3 trang giấy A4. Lượng giấy cần sử dụng để viết chữ nổi là rất lớn. Hiện nay dù đã có nguồn giấy chuyên dụng của công ty sản xuất giấy cung cấp nhưng giá thành của nó khá đắt đối với nhiều người. Giấy lịch tờ cắt ra bằng cỡ giấy A4 cũng đảm bảo chất lượng cho việc viết chữ nổi và có thể lưu trữ hàng chục năm sau.

alt

 Chị Nguyễn Thị Sâm đại diện quỹ An Sinh tặng lịch cũ cho Hội người mù Thanh Trì

Chị Nguyễn Bích Thủy – Giám đốc Điều hành Trung tâm Sống độc lập Hà Nội, là một người đã có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động trợ giúp người đồng cảnh. Qua công việc chị được biết nhu cầu đọc viết của người mù là rất lớn. Việc gom những quyển lịch cũ và cắt xén cho vừa với khổ giấy sử dụng của người mù đã được những người làm công tác hỗ trợ người khiếm thị âm thầm thực hiện từ lâu. Ngay từ năm đầu tiên Trung tâm Sống độc lập Hà Nội được thành lập, chị Thủy đã huy động các nhân viên, thành viên Trung tâm và các bạn PA đem những quyển lịch đã hết năm tập hợp lại để chuyển đến những tổ chức của người mù. Những bức thư cảm ơn nhận về như những lời động viên cổ vũ tinh thần, tiếp thêm tâm huyết để các thành viên tiếp tục công việc, và những quyển lịch gom được năm sau nhiều hơn năm trước. Đến năm nay, chương trình đã có sự chung tay của Quỹ an sinh của các hội viên Trung tâm với sự đồng hành của những tấm lòng thiện nguyện. Mạng Facebook được các thành viên nhóm thực hiện sử dụng đăng thông báo kêu gọi mọi người tham gia ủng hộ và đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều bạn trẻ trong và ngoài Trung tâm.

 Nhiều người biết về chương trình và cũng muốn ủng hộ. Điều đầu tiên luôn được quan tâm là loại lịch bàn và lịch block cỡ lớn có sử dụng được không? Trong một tháng phát động chương trình, các thành viên nhóm đã liên tục viết tin trả lời: đó là loại giấy lịch tờ treo tường hoặc giấy cứng, khổ giấy từ cỡ A4 trở lên. Thông tin được lan tỏa và số lượng lịch thu gom tăng lên nhanh chóng. Có người đã chủ động thu gom lịch cũ của bạn bè, người quen, hàng xóng và đồng nghiệp, sau đó liên lạc với nhóm thực hiện đến tiếp nhận. Biết về chương trình này, đài truyền hình Hà Nội đã cử phóng viên đến đưa tin về quá trình hoạt động.

 Không giấu được niềm xúc động, chị Trần Thị Hường từng có nhiều năm tham gia hoạt động vì cộng đồng và hiện nay làm việc tại Công ty cổ phần thiết bị âm nhạc SOL.G, trụ sở tại Nguyên Khang, Cầu Giấy, Hà Nội chia sẻ “Một lần tình cờ tôi lướt qua vài trang Facebook cộng đồng, tôi biết đến hoạt động thu thập lịch cũ làm giấy viết chữ nổi cho người khiếm thị do Quỹ hỗ trợ an sinh của Trung tâm sống độc lập Hà Nội đứng ra tổ chức. Đọc xong, không hiểu sao có gì đó thôi thúc tôi rằng: “Mình cần phải làm gì đó để tham gia hoạt động này”. Thế là tôi bắt đầu huy động bạn bè, người thân, người quen, kể cả người không quen… Tôi đã rất háo hức tham gia phong trào này vì tôi thấy mình đang làm điều có ý nghĩa. Nhưng thực sự cũng có lúc tôi cảm thấy hụt hẫng khi nhiều người hỏi tôi: “ Làm thế để làm gì? Lại còn mất thời gian công sức?” Đối với cá nhân tôi khi hưởng ứng phong trào thu thập lịch cũ, tôi làm hết những gì có thể. Đơn giản vì tôi thấy điều đó có ý nghĩa không chỉ với tôi mà còn với cuộc sống mà tôi đang thật hạnh phúc được cảm nhận nó. Vì thế, thật vui làm sao khi tôi biết VTC đang chuẩn bị đăng phóng sự việc thu thập lịch cũ cho người khiếm thị trên đài truyền hình, thật vui làm sao khi Công ty cổ phần thiết bị âm nhạc SOL.G, CLB thiện nguyện lá me xanh….cũng đang tham gia hưởng ứng phong trào cùng chung tay giúp sức”.

 Số lượng lịch cũ năm nay sẽ được đưa tới Trung tâm Đào tạo và Phục hồi chức năng của người khiếm thị, Hội người mù Thanh Trì và Đông Anh.

Anh Tú

 

 

 

Hội thảo về tiếp cận bầu cử với NKT

Trong khuôn khổ dự án AGENDA, ngày 12 tháng 12 năm 2012 Trung tâm Sống độc lập Hà Nội đã tổ chức Hội thảo “Tiếp cận bầu cử với NKT”. Tham dự hội thảo có các đại biểu đại diện cơ quan tổ chức bầu cử, các tổ chức của NKT cũng đồng thời là các đối tác của trung tâm trong quá trình điều tra thu thập dữ liệu cho dự án, đại diện luật sư, phóng viên báo chí, truyền hình cùng đông đảo các hội viên và PA của Trung tâm.


alt

 Mục đích của hội thảo nhằm chia sẻ những kết quả nghiên cứu bước đầu của dự án, góp phần giúp NKT nhận thức rõ hơn về về quyền bầu cử của mình.

 Trong bài phát biểu khai mạc hội thảo, bà Nguyễn Hồng Hà, giám đốc Trung tâm Sống độc lạp Hà Nội, đồng thời là giám đốc dự án ‘Nghiên cứu về tiếp cận bầu cử đối với NKT Việt Nam” đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp cận bầu cử trong việc thực hiện quyền của NKT. Tiếp cận bầu cử với NKT tức là xóa bỏ những rào cản, mang đến cho NKT những cơ hội tham gia bầu cử bình đẳng như những NKT.  Sau bài phát biểu khai mạc, các đại biểu được xem một đoạn  phim tài liệu mô phỏng một cuộc bầu cử tiếp cận đối với NKT được thực hiện bởi tổ chức AGENDA.

 Tiếp đó, bà Nguyễn Hồng Hà giới thiệu khái quát về dự án ‘Nghiên cứu về tiếp cận bầu cử đối với NKT Việt Nam”, nêu bật ý nghĩa của việc thực hiện nghiên cứu này là nhằm mang đến những thông tin chung về tình hình bầu cử của NKT Việt Nam; giúp NKT hiểu rõ hơn về quyền bầu cử cũng như ứng cử của  mình, khơi dậy mong muốn tham gia vào quá trình bầu cử và chính trị của NKT và đảm bảo sự tham gia đầy đủ của NKT trong các hoạt động chung của xã hội.

 Tham dự hội thảo này, chị Hồ Thị Thu Hằng, cán bộ UBND phường Vĩnh Phúc cũng có bài phát biểu chia sẻ những kinh nghiệm trong việc tổ chức bầu cử tiếp cận với NKT. Chị cho biết, thực tế những lần bầu cử đã qua, UBND phường Vĩnh Phúc luôn luôn tạo điều kiện tốt nhất để NKT có thể tham gia bầu cử được thuận lợi. Chẳng hạn như tất cả 8 điểm bầu cử của phường đều được đặt ở tầng 1 nhà văn hóa với lối đi rộng rãi, danh sách các ứng cử viên đều được trình bày rõ ràng, dễ đọc, các đoàn viên thanh niên có mặt tại nơi bầu cử để sẵn sang trợ giúp những NKT, mang hòm phiếu đến tận nhà NKT nếu họ không thể tham gia bầu cử… Tiếp thu ý kiến của những NKT trong hội thảo chị hứa rẳng sẽ cùng với UBND và ban bầu cử cử của phường tổ chức đợt bầu cử sau tiếp cận hơn với NKT, giup họ NKT thực hiện đầy đủ hơn quyền bầu cử của mình. Bên cạnh đó, chị cũng mong tất cả những NKT có ý thức trách nhiệm hơn về quyền bầu cử nói riêng và quyền tham gia vào đời sống chính trị nói chung.

alt

Chị Hồ Thị Thu Hằng, cán bộ UBND phường Vĩnh Phúc chia sẻ kinh nghiệm tổ chức bầu cử

 Để NKT hiểu rõ hơn về luật bầu cử Việt Nam luật sư Nguyễn Văn Nghi đã trình bày về luật NKT Việt Nam, bầu cử quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp của Việt Nam trong đó chú trọng đến những chính sách pháp luật có liên quan đến vấn đề tiếp cận bầu cử đối với NKT. Ông chỉ rõ pháp luật Việt Nam không  hề có sự phân biệt giữa NKT và người không khuyết tật. Những chính sách của nhà nước luôn làm sao để đảm bảo NKT thực hiện tốt nhất quyền bầu cử và ứng cử của họ, chẳng hạn như việc pháp luật quy định rõ những cơ sở mà có từ 50 NKT trở nên thì có thể thành lập một điểm bầu cử để thuận tiện cho NKT tham gia bầu cử. Tuy nhiên, dù pháp luật không hề có sự phân biệt đối xử với NKT nhưng thực tế việc thực hiện chưa được tốt nên NKT vẫn gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong việc thực hiện quyền bầu cử của mình. Ông cho rằng, để bầu cử trở nên tiếp cận hơn thì cần sự nỗ lực từ 2 phía, nhà nước và bản thân những NKT. Bản thân NKT coi trọng việc tham gia bầu cử thì sẽ góp phần thúc đầy nhà nước có những biện pháp cải thiện để việc bầu cử trở nên tiếp cận hơn.


alt

Luật Sư trình bày về luật bầu cử của Việt Nam

Tiếp sau đó, chị Đào Minh Huệ, nghiên cứu viên của dự án đã báo cáo sơ lược kết quả nghiên cứu. Trong báo của mình, nghiên cứu viên đã khái quát những thông tin cơ bản về phạm vi, phương pháp và những kết quả của nghiên cứu. Có thể nói, những kết quả đã phần nào cho thấy tình hình và mức độ tiếp cận của NKT Việt Nam trong việc bầu cử.


alt

Nghiên cứu viên Đào Minh Huệ báo cáo sơ lược kết quả nghiên cứu

 Tham dự hội thảo, các đại biểu còn có cơ hội trải nghiệm tham gia một cuộc bầu cử không tiếp cận với tư cách là những NKT để thấy rõ những rào cản mà của NKT gặp phải khi đi bầu cử cũng như  tầm quan trọng của việc tiếp cận đối bầu cử với NKT. Sau khi đã tham gia đóng kịch mô phỏng một cuộc bầu cử, mỗi người sẽ đưa ra những phản hồi về những khó khăn mà họ gặp phải và mong muốn của họ vể một cuộc bầu cử tiếp cận như thế nào. Tổng hợp những ý kiến của các đại biểu thì có thể thấy nổi lên một số điểm chính sau:

  • Khó khăn:

-   Khó khăn trong việc đi lại, gạch tên, ký tên, bỏ phiếu

-   Không có người hỗ trợ

-  Điểm bầu cử chưa tiếp cận: không có đường dốc cho xe lăn, còn nhiều bậc tam cấp, hòm phiếu cao, danh sách cử tri dán ở vị trí cao, bàn viết phiếu cao, không đủ rộng cho người sử dụng xe lăn, không có chữ nổi cho người khiếm thị, không có phiên dịch ngôn ngữ cho người khiếm thính…

-  Không được cung cấp đầy đủ thông tin về ứng cử viên đặc biệt là cương lĩnh hành động của ứng cử viên

-  Các nhân viên bầu cửu không nhiệt tình, mang nặng tính thành tích

-  Thái độ kỳ thị của những người xung quanh với NKT gây cho NKT tâm lý e ngại, không tự tin

  • Mong muốn:

-   Nhân viên tổ bầu cử có thái độ đúng, tôn trọng quyền bầu cử của NKT, hướng dẫn NKT bầu cử tỉ mỉ, chu đáo

-   Nhân viên tổ bầu cử cần được tập huấn để biết cách trợ giúp NKT thuộc các dạng tật, nắm bắt thông tin về cử tri khuyết tật để có kế hoạch trợ giúp hiệu quả

-  Điểm bầu cử tiếp cận: lối đi rộng cho người sử dụng xe lăn có đường dốc cho xe lăn, dễ di chuyển, bàn viết phiếu vừa tầm với NKT, có chữ nổi cho người khiếm thị, phiên dịch ngôn ngữ cho người khiếm thính….

-  Cung cấp thông tin cử tri trên nhiều kênh: tài liệu in, phát thanh, tài liệu phù hợp cho từng dạng khuyết tật

-  Có đội ngũ trợ giúp riêng cho NKT

-  Người khiếm thị được quyền sử dụng con dấu cá nhân

-  Có cách nhìn về NKT bình đẳng như những người không khuyết tật

-  Mang hòm phiếu đến nhà đối với những NKT đặc biệt nặng

-  Có một đội ngũ tình nguyện viên hoặc đoàn viên trợ giúp NKT bầu cử

-  Có NKT trong ban bầu cử

-   Có buổi gặp mặt và tiếp xúc với ứng viên


alt

Đi bầu cử với tư cách là người khiếm thị

 Tổng kết hội thảo, Bà Nguyễn Hồng Hà một lần nữa nhấn mạnh đến việc nâng cao nhận thức về quyền bầu cử trước hết là từ chính bản thân những NKT, từ đó mới có thể làm thay đổi nhận thức của toàn xã hội. Bà mong muốn người khuyết tật sẽ tham gia tích cực và đầy đủ hơn vào các hoạt động chung của đất nước, trong đó bao gồm cả việc tham gia vào quá trình chính trị để NKT có cơ hội nói lên tiếng nói của chính bản thân mình.

Trung tâm Sống độc lập Hà Nội

 

Các sự kiện khu vực nhằm hướng tới thập kỷ mới của NKT khu vực châu Á- Thái Bình Dương

Từ ngày 24 đến ngày 27/10/2012, đại diện lãnh đạo Trung tâm Sống độc lập Hà Nội  đã tham dự một loạt các sự kiện khu vực với nội dung hướng tới thập kỷ mới của NKT khu vực châu Á- Thái Bình Dương diễn ra tại Incheon, Hàn Quốc,  do Tổ chức Người khuyết tật quốc tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương phối hợp tổ chức Người khuyết tật quốc tế Hàn Quốc đồng tổ chức.

Tham dự các sự kiện này gồm hơn 100 đại biểu đến từ nhiều quốc gia khác nhau trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương, trong đó có các đại biểu trong Ban chấp hành Liên hiệp hội các tổ chức của NKT, đại diện của 25 tổ chức thành viên của DPI/AP, các nước viên của mạng lưới Trung tâm Sống độc lập khu vực châu Á – Thái Bình Dương bao  gồm Campuchia, Nhật Bản, Mông Cổ, Mianma, Malaysia, Nê-pan, Pakistan, Philippin, Hàn Quốc, Thái Lan, và Việt Nam và nhiều tổ chức của NKT của nhiều nước khác.

alt

Các đại biểu tham dự ho to khẩu hiệu "Make the right real"

Chuỗi các sự kiện khu vực này bao gồm:

1. Hội nghị lần thứ 15 của Tổ chức NKT quốc tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương (DPI/AP) diễn ra từ ngày 24-25/10/2012 nhằm mục đích mở rộng và tăng cường hơn nữa mạng lưới và sự hợp tác giữa các nước thành viên. Hội nghị đã thảo luận về việc thực hiện mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài trong thập kỷ mới về NKT khu vực châu Á – Thái Bình Dương (2013-2022) của DPI/AP. Đồng thời ,lựa chọn các Ủy viên mới trong hội đồng và ban chấp hành của DPI/AP. Sau 2 ngày làm việc tích cực với sự đóng góp ý kiến của nhiều đại biểu tham dự, hội đề ra được phương hướng thực hiện công ước quốc tế về quyền của NKT  và đưa ra tuyến bố Incheon về quyền con người.

 2. Tiếp ngay sau hội nghị của DPI/AP là hội nghị của Mạng lưới các Trung tâm sống độc lập khu vực châu Á-Thái Bình Dương diễn ra vào ngày 26/10/2012. Hội nghị này nhằm nâng cao năng lực của các nhà lãnh đao khuyết tật phong trào sống độc lập trong khu vực về lĩnh vực sống độc lập, xây dưng một nền tảng cơ bản nhằm thúc đẩy hệ thống dịch vụ sống độc lập khu vực châu Á – TBD. Tại hội nghị, 12 đại biểu đến từ 12 Trung tâm Sống độc lập ở các nước châu Á - Thái Binh Dương trong đó có Bà Nguyễn Hồng Hà, đại diện Phong trào Sống độc lập Việt Nam đã báo cáo về phong trào sống độc lập ở mỗi nước từ khi thành lập cho đến nay, nêu lên những kết quả đạt được và những khó khăn và hướng phát triển trogn giai đoạn tới. Tùy theo hoàn cảnh riêng mà phong trào sống độc lập ở mỗi nước có đặc điểm riêng biệt, tuy nhiên một nét chung có thể thất rõ là nhờ có phong trào sống độc lập này mà cuộc sống của những NKT đặc biệt là NKT nặng đã có sự thay đổi tích cực. Đây là một trong những nhân tố quan trong giúp NKT hòa nhập bình đẳng trong xã hội. Các lãnh đạo trung tâm sống độc lập cùng nhau thảo luận cách thức vận động để nhà nước công nhận tính hiệu quả và ý nghĩa của mô hình sống độc lập từ đó có sự hỗ trợ đối với sự phát triển của phong trào này. Sau khi nghe báo cáo, cáo, hội đã chia nhóm thảo luận về các vấn đề liên quan như dịch vụ PA, chương trình Sống độc lập, tham vấn đồng cảnh, vận động ủng hộ…

 alt

Đại diện lãnh đạo các trung tâm Sống độc lập của trình bày về phong trào sống độc lập các nước

3. Ngày 27/10/2012 diễn ra hội nghị của Liên hiệp hội các tổ chức của NKT khu vực châu Á- Thái Bình Dương  nhằm mục tiêu thiết lập cơ sở pháp lý của việc thực hiện công ước quốc tế về quyền của NKT trong thập kỷ mới về  NKT khu vực châu Á- Thái Bình Dương. Hội nghị đã điểm lại việc thực hiện những mục tiêu của thập kỷ thứ 2 về NKT khu vực (2003-1012) và bàn về kế hoạch hoạt động cho thập kỷ mới.

Những sự kiện khu vực trên đã góp phần làm cho sự hợp tác giữa các tổ chức của NKT của các nước trong khu vực ngày càng chặt chẽ hơn nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của  thập kỷ mới về NKT khu vực và công ước quốc tế về NKT.

 

GIÁO DỤC TÌNH DỤC Ở VIỆT NAM – TIẾNG NÓI CỦA NGƯỜI TRONG CUỘC

Trong 2 ngày 10 và 11/8/2012, Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP) và Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) cùng hợp tác tổ chức Hội nghị Quốc gia về Giáo dục Tình dục ở Việt Nam năm 2012 tại Khách sạn Crowne Plaza, Hà Nội. Hội nghị là cơ hội để các nhà nghiên cứu và hoạt động xã hội chia sẻ các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực tình dục. Những người làm công tác giáo dục, tư vấn, công tác xã hội , văn hóa nghệ thuật và truyền thông và những người quan tâm đến chủ đề này đều được mời tham gia để đóng góp những suy nghĩ và các sáng kiến về giáo dục tình dục.

Đến với Hội nghị vào một buổi sáng mùa hạ đẹp trời, không khí phố phường trở nên trong lành hơn sau một đêm mưa. Điều đầu tiên tôi cảm nhận được sự chuyên nghiệp của Ban Tổ chức Hội nghị, từ khâu chọn địa điểm tổ chức đến việc đón tiếp khách mời cũng như cung cấp tài liệu. Tất cả mọi người, kể cả những người khuyết tật chúng tôi đều có thể hòa nhập vào không khí của Hội nghị. Chúng tôi hầu như có thể tiếp cận đến tất cả mọi nơi của Hội nghị. Tuy thời gian làm việc có chút khẩn trương nhưng chúng tôi vẫn có thể bắt kịp chương trình hoạt động mà không cảm thấy bị lạc lõng.

Chủ đề của Hội nghị năm nay nêu lên một vấn đề đang được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm: “Giáo dục tình dục ở Việt Nam: Nhốt hươu, đuổi hươu hay vẽ đường cho hươu chạy?”.

alt

Tình dục là một trong những khía cạnh quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân và có ý nghĩa đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của toàn xã hội. Trong những năm gần đây, giáo dục tình dục là một trong những chủ đề thường trực của các diễn đàn xã hội ở Việt Nam và mặc nhiên chỉ có thanh thiếu niên mới được coi là đối tượng của giáo dục tình dục. Câu hỏi được trăn trở trong vô số các cuộc thảo luận là có nên “vẽ đường cho hươu chạy?” Không ít các giải pháp được nêu lên nhưng cho đến nay, chưa có câu trả lời nào nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, mặc dù đã có sự thừa nhận rằng chưa có đường nhưng hươu đã chạy rồi và đã chạy từ lâu!

Bên cạnh những quan điểm đề xuất các giải pháp “cởi mở” - cung cấp thông tin toàn diện và trực tiếp cho vị thành niên thanh niên thì nhóm “thận trọng” lại quan ngại những hệ luỵ của sự “biết quá nhiều” đối với giới trẻ.

Trong khi các bên vẫn mải mê tranh luận thì ngày càng nhiều hiện tượng tiêu cực, thương tâm xảy ra với mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn và không chỉ còn là vấn đề của giới trẻ. Sự gia tăng các vụ xâm hại tình dục trẻ em, hiếp dâm (nam và nữ) mà ngay cả người xâm hại lẫn người bị xâm hại đều là vị thành niên, tình trạng mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai của vị thành niên, ngoại tình của người lớn, “chăn rau”, sự lan tràn của mại dâm, các sản phẩm khiêu dâm, kích dục… trong vài năm gần đây đã trở thành nỗi đau nhức nhối của toàn xã hội, gióng lên những hồi chuông cảnh báo thống thiết làm hoang mang không ít những bậc làm cha làm mẹ. Thêm vào đó, sự ngần ngại khi thảo luận những khía cạnh tích cực và tốt đẹp của tình dục càng khiến cho bức tranh trở nên xám bạc và càng khiến tình dục trở thành một chủ đề nhạy cảm hơn bao giờ hết.

Phát biểu tại phiên khai mạc, với lời dẫn dung dị, TS Khuất Thu Hồng – Đồng Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) - đã trích dẫn bức thư của một cô giáo THPT từ Nghệ An chia sẻ về việc cô thường xuyên nhận được các câu hỏi của các cô cậu học trò của mình về việc đã trót mang thai cần xử lý thế nào.

Hội trường dường như tĩnh lại bởi sự đồng cảm về một vấn đề rất đáng lưu tâm của xã hội. TS. Hồng nói: “Tôi đã nghe những lời tâm sự của các cô gái vì không thể thuyết phục bạn trai dùng biện pháp ngừa thai để rồi phải trải qua biết bao đau đớn dằn vặt khi phải bỏ đi kết quả tình yêu của họ. Có những người phụ nữ lại bị chồng hắt hủi vì bị nghi ngờ không còn trong trắng… Đau lòng hơn cả là chuyện những đứa trẻ non nớt bị xâm hại tình dục.”

Cũng tại Hội nghị nhóm nghiên cứu của ISDS đã công bố kết quả được khảo sát từ 5.123 người trong độ tuổi từ 18-65 tại 8 tỉnh và 3 thành phố. Kết quả cho thấy, có đến hơn 53% người trả lời rằng họ quan hệ tình dục vì để sinh con. Có 30% nữ và 22% nam coi tình dục là để duy trì tình cảm vợ chồng, 10% nữ và 6% nam coi quan hệ tình dục là trách nhiệm vợ chồng và chỉ có 11% nam và 4% nữ cho rằng quan hệ tình dục để có khoái cảm.

Mặc dù có đến 91% cho rằng phụ nữ cũng có quyền được hưởng khoái cảm tình dục như nam giới nhưng có tới 77,6% lại cho rằng tốt nhất là phụ nữ nên có ít kinh nghiệm tình dục hơn nam giới. Chính vì thế 84,1% cho rằng trinh tiết của người vợ khi kết hôn là rất quan trọng và ngược lại chỉ có 69,9% cho rằng trinh tiết của người chồng khi kết hôn là rất quan trọng. Nhóm nghiên cứu của ISDS đã bình luận rằng “trinh tiết vẫn được ca ngợi như một lá bùa hộ mệnh cho phụ nữ nhưng thực tế thì họ đang ngày càng thoả hiệp hơn với các trào lưu sống thử hay quan hệ tình dục trước hôn nhân”.

Từ  những nghiên cứu, thống kê cũng như những câu chuyện ở Hội nghị, chúng ta có thể thấy một thực trạng về kiến thức tình dục còn rất hạn chế ở Việt Nam. Đứng ở góc độ cá nhân một sinh viên ngành Tâm lý học, tôi nhận thấy dường như có quá nhiều sự né tránh khi nói về vấn đề tình dục, trong khi tình dục luôn là một bản năng nguyên thủy của con người. Chúng ta có thể né tránh nói về nó, xấu hổ khi đề cập đến, thậm chí phê phán để che giấu đi những suy nghĩ thực của mình về tình dục, nhưng đằng sau đó chúng ta lại có những khao khát “ngầm” được tìm hiểu những kiến thức về tình dục, và hơn cả là ham muốn được trải nghiệm, được biết về tình dục cùng những cung bậc của nó. Không khó để nhận ra trong các cuộc trò chuyện, tán gẫu nơi công sở, trường học,… đề tài về tình dục luôn trở nên khá sôi nổi khi được nhắc đến nhưng lại mang một không khí lén lút theo kiểu “nói nhỏ”, hay những ngôn ngữ về tình dục luôn được biến tấu mang tính ám chỉ để người nghe ngầm hiểu và tưởng tượng và rồi những câu chuyện đó có thể mang ra để trêu đùa nhau, biến thành một đề tài giải trí, để che giấu sự ngượng ngùng. Dường như trò chuyện một cách nghiêm túc và thẳng thắn về vấn đề tình dục cần một dũng khí rất lớn?! Thế nhưng, ngược lại với việc trò chuyện, chia sẻ kiến thức về tình dục, việc thực hành tình dục ở nước ta lại khá “mạnh bạo”!

Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam năm 2009 (SAVY 2) cho thấy tuổi trung bình của quan hệ tình dục lần đầu là 18.1 (18.2 với nam và 18 với nữ), thấp hơn so với SAVY 1. Điều này cho thấy xu thế chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân đang nổi lên ở giới trẻ. Tỷ lệ có bạn tình là 35,7% (nam) và 31,3% (nữ), tăng lên so với SAVY 1. Ở SAVY 2 có 34% số người được hỏi đã trả lời có bạn tình, số người sống chung là 16%. Sống chung, sống thử ở thanh niên đang nổi lên như là một hiện tượng  trong các trường đại học, các khu công nghiệp, kèm theo nó là những hệ luỵ làm nhức nhối dư luận xã hội.

Tình dục đồng giới phát triển mạnh mẽ ở các nước phương Tây và ngày nay đã lan tràn đến Việt Nam. Những hiện tượng đám cưới đồng giới, ngày diễu hành của những người đồng giới trong thời gian gần đây nhất đã cho thấy xu hướng phát triển của  xu hướng này ở Việt Nam; tuy nhiên ở SAVY 2 và SAVY 1 đã phát hiện tỷ lệ thanh thiếu niên không biết về tình dục đồng giới là 36,6% và 40% tính trên toàn quốc, chỉ thay đổi nhỏ sau 5 năm.

Điều này chứng tỏ nhận thức của cộng đồng về xu hướng tình dục này không được cải thiện bao nhiêu. Nhiều thanh thiếu niên chưa biết đến hiện tượng tình dục đồng giới và nhận định của các em về tình dục đồng giới nói chung không chính xác, nặng về thành kiến. Cần phải có những nghiên cứu và khảo sát nghiêm túc, khoa học về vấn đề này để định hướng dư luận xã hội.

Có thể thấy vấn đề Giáo dục tình dục ở Việt Nam đang rơi vào tình trạng “chưa học bò đã lo học chạy”, chúng ta chưa được trang bị một nền tảng kiến thức về tình dục nhưng chúng ta đã tiếp xúc với những vấn đề về tình dục khi bản thân còn chưa sẵn sàng, chưa đủ kiến thức cũng như kĩ năng sống, hoặc ngay cả khi bản thân sẵn sàng, chúng ta lại mù mờ về những cách để bảo vệ bản thân khỏi những mặt tiêu cực của tình dục. Không biết nhưng không dám thẳng thắn thừa nhận, lên tiếng, mà luôn né tránh dẫn đến bản thân tự tìm hiểu để rồi có thể đi sai đường, có những suy nghĩ sai lệch, không đúng về tình dục hoặc tạo ra những hậu quả đáng tiếc.

Hội nghị lần này cũng đã tổ chức một phiên Hội thảo vệ tinh: “Quyền sinh sản và tình dục của NKT: AI HỎI? AI TRẢ LỜI?”, người khuyết tật (NKT) chúng ta đã không còn đứng bên lề xã hội mà đã trực tiếp tham dự vào những vấn đề về sức khỏe và tình dục. Tuy lần này, đến với Hội nghị, chúng ta chỉ có gần 50 đại biểu là người khuyết tật đến từ ba miền Tổ quốc, nhưng chúng ta đã góp phần nói lên tiếng nói của mình về Quyền sinh sản và tình dục của Người khuyết tật.

Khai mạc hội thảo, bà Đặng Huỳnh Mai, nguyên thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, chủ tịch Liên hiệp hội về Người khuyết tật Việt Nam đã nhấn mạnh: “Quyền sinh sản và tình dục của người khuyết tật là một vấn đề rộng và bao gồm nhiều lĩnh vực. Chúng ta không chỉ nói đến vai trò của y tế mà cả vai trò của truyền thông, trách nhiệm và nghĩa vụ của các ban ngành và đặc biệt vấn đề giáo dục về khuyết tật và quyền sinh sản, tình dục của người khuyết tật trong trường phổ thông, trong trường đại học, trong xã hội là vô cùng quan trọng.”

Hội thảo gồm có 4 tham luận với hai nghiên cứu và hai mô hình can thiệp. Tham luận đầu tiên, một nghiên cứu định tính, của chị Nguyễn Hồng Hà, một phụ nữ khuyết tật vận động đến từ Trung tâm Sống độc lập cho thấy rằng mong muốn được yêu thương, được chăm sóc, được quyền hạnh phúc của người làm vợ, làm mẹ là mong ước thực sự của các phụ nữ trong nghiên cứu, tuy nhiên đó vẫn chỉ là mong ước bởi vì cơ hội tình yêu và hôn nhân của các phụ nữ khuyết tật rất hạn chế. Nhiều phụ nữ khuyết tật trong nghiên cứu đã kìm nén những khao khát bản thân và coi hạnh phúc là một cái gì đó xa vời vợi với họ. Tham luận tiếp theo đưa ra các dữ liệu định lượng của Trung tâm Sáng kiến Sức khoẻ và Dân số về những rào cản trong việc thực hiện quyền sinh sản và tình dục của NKT theo ba cấp độ: cá nhân, gia đình và cộng đồng – xã hội. Ở cấp độ cá nhân, tự bản thân NKT kỳ thị với mình và NKT chưa nhận thức được các quyền SKSSTD của họ và vận dụng quyền này trong thương thuyết. Ở cấp độ gia đình, tỷ lệ NKT gặp phản đối trong tình yêu và hôn nhân của NKT cao, lần lượt là 49,51% và 40%. Ở cấp độ cộng đồng – xã hội, nhiều người còn tỏ thái độ kỳ thị với NKT khi họ đi chơi với người yêu; tỷ lệ bị chế giễu về ngoại hình và các khả năng liên quan đến tình yêu, tình dục, hôn nhân cao; các kênh thông tin và nội dung thông tin về SKSSTD được cung cấp chưa phù hợp với các dạng khuyết tật; NKT gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận các cơ sở CSSKSSTD bao gồm cơ sở hạ tầng và thái độ của cán bộ y tế.

alt

Chị Nguyễn Hồng Hà đang trình bày tại Hội thảo vệ tinh

Tiếp theo là tham luận về mô hình can thiệp giáo dục giới tính cho học sinh khiếm thính do LIGHT thực hiện. Đĩa VCD “Hãy Nghe Cơ Thể Nói” là sản phẩm đầu tiên nói về vấn đề SKSS/SKTD dành cho VTN/TN Khiếm thính ở Việt Nam. Chương trình cũng nhận được sự ủng hộ và đánh giá cao từ phía gia đình của các em, giáo viên dạy trong các trường, cán bộ tham gia  dự án (nhân viên, giảng viên, quay phim, đạo diễn, dựng phim…), và giới truyền thông cũng như các ban ngành liên quan. Tham luận cuối cùng là về bộ tài liệu hướng dẫn hoạt động giảm kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người khuyết tật do Viện nghiên cứu phát triển xã hội thực hiện. Bộ công cụ nhằm giảm sự kỳ thị và PBĐX đối với NKT, thúc đẩy thực hiện quyền của NKT và hướng tới sự bình đẳng. Bộ công cụ đã được tập huấn sử dụng tới nhiều người ở cấp quốc gia, tỉnh, quận/huyện và phường/xã.

Sau 4 tham luận, các đại biểu tham dự hội thảo đã đưa ra nhiều câu hỏi để làm rõ các chi tiết trong các bài tham luận và đưa ra các câu hỏi và thảo luận liên quan đến những giải pháp để tạo cơ hội tình yêu và hôn nhân của những NKT và xoá đi những rào cản trong việc thực hiện quyền sinh sản và tình dục của họ. Dù các ý kiến, câu hỏi khác nhau, các đại biểu đều thống nhất rằng đây là một vấn đề cấp thiết và cần có những hành động cụ thể sau hội thảo để xúc tiến việc thừa nhận và thực hiện quyền được yêu, được có con, được kết hôn và được có một đời sống tình dục an toàn và thoả mãn của NKT. Thời gian hội thảo đã không đủ để các đại biểu chia sẻ các băn khoăn, trăn trở của mình, những điều mà như một số đại biểu chia sẻ "chưa bao giờ được nói". Ban chủ toạ đã phải xin lỗi nhiều đại biểu vì đã không thể đáp ứng những cánh tay của họ đã giơ lên xin phát biểu dù đã phải kéo dài thời gian phiên họp thêm gần một tiếng.

Bế mạc Hội thảo, Bà Hoàng Tú Anh, giám đốc Trung tâm Sáng kiến Sức khoẻ và Dân số phát biểu: “Chúng ta còn rất nhiều việc cần phải làm để Quyền Sinh sản và Tình dục của NKT được nhìn nhận và thực hiện. Việc này cần có sự chung tay của các ngành, các cấp khác nhau và của toàn cộng đồng chứ không chỉ của những NKT và những người làm việc với NKT. Hội thảo này mới chỉ là bước khởi đầu để kêu gọi sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, những nhà nghiên cứu, những người thực hiện chương trình và các tổ chức và cá nhân khác tới vấn đề sinh sản và tình dục của NKT. Chúng tôi mong muốn rằng họ sẽ có những hành động khẩn trương và thực tiễn để giúp cho NKT có được đời sống sinh sản và tình dục khoẻ mạnh và giúp họ thực hiện được các quyền sinh sản và tình dục của mình.”

Có thể thấy gần 3 tiếng đồng hồ là quá ngắn để những NKT có thể nói lên những tiếng nói, bày tỏ những mong muốn hay chia sẻ của bản thân về Quyền sinh sản và Tình dục của NKT, nhưng chúng ta cũng có thể tạm hài lòng khi chúng ta đã nỗ lực đấu tranh để giành lấy Quyền cho chính mình, chúng ta đã không bị xã hội bỏ quên hay phải đứng bên lề những vấn đề của xã hội nữa. NKT đang dần khẳng định vị thế và tiếng nói của mình ở cộng đồng trong vấn đề về Tình dục và Sức khỏe nói riêng và các vấn đề xã hội khác nói chúng. Tình dục và Sức khỏe – tất cả chúng ta đều là người trong cuộc!

                                                                                Tác giả: Nguyệt Hà  (Nguyễn Thị Ánh Ngọc)

                                                                                Hội viên của Trung tâm Sống SĐL Hà Nội


 

Tập huấn Lãnh đạo tham vấn đồng cảnh và điều phối viên PA cho Đà Nẵng

 Nhằm thúc đẩy sự phát triển của phong trào sống độc lập của Đà Nẵng từ ngày 11/6 đến ngày 20/6 năm 2012 Trung Tâm Sống độc lập của NKT Hà Nội đã tổ chức khóa tập huấn lãnh đạo tham vấn đồng cảnh và điều phối người hỗ trợ cá nhân cho các đại diện nhóm thực hiện chương trình Sống độc lập Đà Nẵng. Đợt tập huấn này cũng nằm trong kế hoạch mở rộng mô hình Sống độc lập của 3 tỉnh Hải Phòng, Đà Nẵng, và Cần Thơ .

alt

 Khóa tập huấn đã trang bị cho các học viên những kiến thức và kỹ năng cơ bản và cần thiết của một lãnh đạo tham vấn viên đồng cảnh và điều phối viên. Kết thúc khóa tập huấn, đại diện ban lãnh đạo Trung tâm đã trao chứng chỉ cho các học viên. Hi vọng rằng, với những gì đã tiếp thu được, các lãnh đạo tham vấn đồng cảnh và các điều phối viên PA tương lai sẽ áp dụng một cách linh hoạt và hiệu quả vào công việc sau này.

 

Giới thiệu dự án “Nghiên cứu về tiếp cận quyền bầu của của NKT tại Việt Nam”

Chiều ngày 14/6/2012, Trung tâm Sống độc lập (TT SĐL) Hà Nội đã tổ chức buổi Giới thiệu dự án Nghiên cứu về tiếp cận bầu cử của người khuyết tật tại Việt Nam” đến các đối tác để thiết lập sự hợp tác với các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình nghiên cứu dự án này. Tham dự buổi giới thiệu này có TS. Khuất Thu Hồng, chuyên gia đến từ viện nghiên cứu phát triển xã hội, chị Tiểu Minh Hường, giảng viên đến từ khoa công tác xã hội trường Đại học Lao động xã hội, các phóng viên của báo Nhân dân, báo Người bảo trợ, báo Văn hóa, Báo Hà Nội mới và phóng viên Đài tiếng nói VN.


alt

 Tại buổi họp, chị Hồng Hà, Giám đốc TTSĐL Hà Nội đã giới thiệu đôi nét về Trung tâm và dự án nghiên cứu về tiếp cận quyền bầu cử cho NKT trong đó nhấn mạnh lý do tại sao TTSĐL lại thực hiện dự án này. Thực tế ở VN cho thấy, chưa từng có đại biểu trong quốc hội là NKT và vì thế tiếng nói của NKT chưa thực sự được phản ánh một cách đầy đủ và chính xác đến các cơ quan lập pháp và thực thi pháp luật. Hơn nữa, rất nhiểu NKT còn chưa nhận thức được quyền của mình trong việc bầu cử. Vì thế, thực hiện dự án này, TTSĐL Hà Nội mong muốn có thể nói lên tiếng nói của NKT về quyền bầu cử và ứng cử của chính mình, góp phần thay đổi nhận thức của xã hội cũng như thúc đẩy việc thực hiện đầy đủ quyền của NKT theo như công ước quốc tế về NKT đã chỉ rõ. Đồng thời Trung tâm cũng hy vọng những nghiên cứu về khả năng tiếp cận bầu cử cho người khuyết tật tại Việt Nam sẽ mang lại cho các nhà hoạch định chính sách những dữ liệu, thông tin về một khía cạnh quan trọng trong tình hình của người khuyết tật và giúp hỗ trợ sự tham gia của người khuyết tật trong tất cả các lĩnh vực của xã hội.

Tham dự buổi họp, các đại biểu đã có nhiều ý kiến đóng góp, chia sẻ rất hữu ích cho Trung tâm trong quá trình điều tra nghiên cứu, đề xuất hướng giải quyết những khó khăn sẽ gặp phải để dự án được thực hiện thành công và mang lại những lợi ích thiết thực nhất cho NKT.

 Dự án chính thức được triển khai từ tháng 6/2012 và kéo dài trong thời gian một năm dưới sự tài trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật từ tổ chức AGENDA (Indonesia)

                                                                                                        Trung tâm SĐL Hà Nội

 

TỌA ĐÀM “CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT” TẠI ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Nhận lời mời của Khoa Văn- xã hội, Trường Đại học Khoa học-Đại học Thái Nguyên, ngày 04/5/2012, đại diện Trung tâm đã đến dự và có bài tham luận tại buổi Tọa đàm “Công tác xã hội với Người khuyết tật”.

Buổi tọa đàm được tổ chức bởi Khoa Văn- xã hội, Đại học Khoa học-Đại học Thái Nguyên. Đến dự có Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học, đại diện Phòng Bảo trợ xã hội tỉnh Thái Nguyên, đại diện Hội NKT thành phố Thái Nguyên, lãnh đạo Khoa,  đông đảo giảng viên, cán bộ Khoa và toàn thể các em sinh viên ngành CTXH đang theo học tại trường. Đại diện Trung tâm đã nhận được sự đón tiếp vô cùng nồng hậu từ giảng viên và sinh viên.

Tại buổi tọa đàm, Chị Nguyễn Hồng Hà-Giám đốc dự án đã mang đến chuyên đề Nhu cầu, đặc điểm tâm lý và những rào cản đối với Người khuyết tật. Bài trình bày của chị đã mang đến cho các giảng viên và sinh viên ngành CTXH một hình dung sát thực hơn về NKT. NKT không phải là bệnh nhân, cũng không phải là thiên thần “vượt qua số phận”. NKT cũng là những công dân như mọi người không khuyết tật khác, có những thế mạnh và hạn chế, có những nhu cầu bình dị như bất cứ một con người nào. NKT gặp nhiều rào cản trong cuộc sống hơn so với những nhóm yếu thế khác trong xã hội, chính vì vậy họ có những đặc điểm tâm lý khác biệt và khá phức tạp. Thực tế này đòi hỏi cái nhìn cũng như cách tiếp cận phù hợp từ phía những người làm CTXH.

Bên cạnh đó, những người tham dự tọa đàm còn có cơ hội hiểu thêm về phân ngành Công tác xã hội với Người khuyết tật qua phần chia sẻ của chị Đào Minh Huệ-Điều phối viên dịch vụ Người hỗ trợ cá nhân và cũng là một cử nhân ngành CTXH. Mục đích của CTXH với người khuyết tật không nằm ngoài mục đích chung của ngành CTXH, vì thế, nhân viên xã hội có vai trò và trách nhiệm quan trọng trong tiến trình tạo ra sự thay đổi tích cực đối với đời sống của NKT. Họ là những người đóng vai trò tạo điều kiện, là chất xúc tác, là người giáo dục, người trung gian nối kết các nguồn lực, là người biện hộ cho quyền lợi của NKT. Để thực hiện hiệu quả những vai trò này, nhân viên xã hội cần có những kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp, giữ vững những giá trị  nghề và quy điều đạo đức, đồng thời cũng phải có sự linh hoạt cần thiết trong thực tế.

Buổi tọa đàm thu hút sự chú ý của người nghe bởi những gì các vị khách mời chia sẻ không phải là lý thuyết khô khan giáo điều, mà là những trải nghiệm thực tế sinh động. Đây không chỉ là một cơ hội trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên nghiệp mà qua đó, sinh viên CTXH sẽ có thêm động lực học tập cũng như vững tin hơn vào con đường mà mình đã lựa chọn.

Buổi tọa đàm cũng đã góp phần mở rộng phạm vi ảnh hưởng của TT Sống độc lập Hà Nội đến các địa phương trên cả nước như một tổ chức có nhiều hoạt động mang đặc thù của ngành Công tác xã hội. Từ đó Khoa Văn-xã hội, trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên đã hình thành dự định hỗ trợ Hội NKT thành phố Thái Nguyên xây dựng mô hình TT Sống độc lập ngay tại địa phương mình trong tương lai.

 
Trang 4 của 7

Hình ảnh nổi bật

  • Gặp đoàn ABILIS 11.2016
  • Tpwward ASCC vision 2025
  • ILP 22.11.2016
  • Lớp học tiếng Anh

Các tổ chức hỗ trợ







Liên kết

Nhóm vì tương lai tươi sáng





Thống kê truy cập

Ngày:20-11-2017
Số lượt truy cập1672726
Số người đang trục tuyến: 8